Vấn đề có thể khó ở "Bài 14. Phép cộng và phép trừ số nguyên" (Toán 6)

📌 1. Vấn đề có thể khó

  • Do chương trình chưa cho phép đề cập đến khái niệm giá trị tuyệt đối nên sách đã sử dụng cách diễn đạt khá trực quan: “mỗi số nguyên dương hay âm đều có hai phần: phần dấu và phần số tự nhiên”, trong đó “phần số tự nhiên” của một số nguyên khác \(0\) cũng chính là “giá trị tuyệt đối” của nó, nhưng được đặt tên một cách tự nhiên. Vì vậy, không nên coi “phần số tự nhiên” là một thuật ngữ hay một khái niệm toán học. Hãy để học sinh nhận biết trong các số nguyên cụ thể. Chẳng hạn, số \(-3\) có phần dấu là dấu “\(-\)” và phần số tự nhiên là \(3\); số \(7\) (còn có thể viết là \(+7\)) có phần dấu là “\(+\)” và phần số tự nhiên là \(7\).
  • Mỗi quy tắc tính toán trong bài đều nói rõ làm thế nào để xác định dấu và xác định phần số tự nhiên của kết quả cần tìm. Chẳng hạn: Tổng của hai số nguyên âm thì có dấu “\(-\)” và có phần số tự nhiên bằng tổng các phần số tự nhiên của hai số hạng ban đầu. Nếu hiểu rõ điều này, học sinh tính toán sẽ rất dễ dàng.
  • Phương pháp tiếp cận quy tắc thực hiện phép cộng số nguyên chủ yếu dựa vào hình ảnh trực quan: biểu diễn trên trục số. Do đó nếu có điều kiện, giáo viên có thể thiết kế hình một điểm chuyển động trên trục số (hình động). Chẳng hạn: để minh hoạ phép cộng \((-3)+(-5)\), hãy cho một điểm xuất phát từ gốc \(O\) của trục số di chuyển lần thứ nhất đến điểm \(-3\); lần thứ hai di chuyển tiếp từ \(-3\) một khoảng \(5\) đơn vị theo chiều âm. Điểm dừng cuối cùng là điểm biểu diễn kết quả của phép cộng.
  • Phức tạp nhất trong bài này là quy tắc cộng hai số trái dấu, bởi vì học sinh phải lựa chọn một trong hai trường hợp (bằng cách so sánh hai giá trị tuyệt đối) để xác định dấu của kết quả phép cộng. Cách phát biểu bằng lời trong trường hợp này lại có nhiều ưu điểm so với việc nêu công thức. Tuy nhiên học sinh cũng không khó để hiểu quy tắc nếu được trải nghiệm qua nhiều ví dụ cụ thể.
  • Sau khi có khái niệm số đối, dấu “\(-\)” còn có thêm một nghĩa nữa, đó là “số đối của...”. Chẳng hạn, \(-4\) còn hiểu là “số đối của \(4\)”, \(-(-3)\) còn hiểu là “số đối của số đối của \(3\)”. Tuy nhiên điều đó không gây ra mâu thuẫn nào cả.

📌 2. Những lưu ý khác

Bài này liên quan đến việc mở rộng phép cộng từ tập các số tự nhiên sang tập các số nguyên. Việc mở rộng đó đòi hỏi phải thoả mãn hai điều kiện:

  • Phép cộng trên \(\mathbb{Z}\) khi hạn chế trên \(\mathbb{N}\) thì chính là phép cộng trên \(\mathbb{N}\); nghĩa là phép cộng trên \(\mathbb{Z}\) cũng chính là trên \(\mathbb{N}\) khi áp dụng cho các số nguyên là số tự nhiên.
  • Phép cộng trên \(\mathbb{Z}\) cũng có các tính chất giao hoán và kết hợp như trên \(\mathbb{N}\).

Trong bài, chúng ta không đi sâu vào những vấn đề có tính chất lí thuyết về “mở rộng phép toán” mà chỉ cung cấp cho học sinh kết quả, nghĩa là bày cho học sinh cách thực hiện phép cộng hai số nguyên, đặc biệt là hai số nguyên khác dấu và hai số nguyên âm. Lưu ý rằng các hoạt động trong “Tìm tòi – Khám phá” không phải để “chứng minh” mà chỉ nhằm giúp cho học sinh hiểu và dễ chấp nhận quy tắc được cung cấp sau đó.

Giải các bài tập 3.2, 3.3, 3.5, 3.6, 3.7, 3.8 sách Toán lớp 6

Bài tập 3.2.

💡 Lời giải/Đáp số

a) Độ cao trung bình của vịnh Thái Lan là \(-45\) m và độ cao thấp nhất là \(-80\) m.

b) Nhiệt độ trung bình là \(-25^\circ\mathrm{C}\).

c) Từ độ cao \(-700\) m.

Bài tập 3.3.

💡 Lời giải/Đáp số

a) Khi máy bay ở độ cao \(10\,000\) m, nhiệt độ bên ngoài có thể xuống đến \(50^\circ\mathrm{C}\) dưới \(0^\circ\mathrm{C}\).

b) Cá voi xanh có thể lặn sâu \(2\,500\) m dưới mực nước biển.

Bài tập 3.5.

💡 Lời giải/Đáp số

Các điểm \(A,B,C,D,E\) lần lượt biểu diễn các số:

\[ 9;\ -5;\ 5;\ 0;\ -1. \]

Bài tập 3.6.

💡 Lời giải/Đáp số

Các số được sắp xếp theo thứ tự tăng dần là:

\[ -8;\ -7;\ -3;\ -1;\ 0;\ 4;\ 7;\ 15;\ 25. \]

Bài tập 3.7.

💡 Lời giải/Đáp số

a)

\[ -54 \lt -39. \]

b)

\[ -3\,279 \lt -3\,179. \]

Bài tập 3.8.

💡 Lời giải/Đáp số

a)

\[ A=\{-2;\ -1;\ 0;\ 1;\ 2;\ 3\}. \]

b)

\[ B=\{-1;\ 0;\ 1;\ 2;\ 3;\ 4\}. \]

Những lưu ý khi giảng dạy "Bài 13: Tập hợp các số nguyên" (Toán 6)

📌 1. Chuẩn bị trước khi lên lớp

• Đối với GV, cần chuẩn bị một số đồ vật hay tranh ảnh có số nguyên âm (số âm nói chung) và các dụng cụ vẽ hình (để vẽ trục số).

• Đối với HS, có thể tìm hiểu trước về số nguyên âm và số âm nói chung.

📌 2. Vấn đề có thể khó

• Bài tuy chủ yếu nói về số nguyên, nhưng khi nói đến ý nghĩa thực tiễn thì không thể chỉ đề cập đến số nguyên mà phải đến số âm và số dương nói chung. Bởi vậy GV cần giải thích đơn giản cho HS biết rằng số nguyên âm (số nguyên dương) chỉ là những ví dụ về số âm (số dương) mà không cần giải thích gì sâu thêm.

• Một số cách diễn đạt có thể HS còn bỡ ngỡ như "tầng trường âm", "độ cao âm", "quãng đường âm". Do đó cần thống nhất cách hiểu và diễn đạt trong một số tình huống cụ thể. Chẳng hạn: Độ cao (hay độ sâu) trung bình của vịnh Thái Lan là \(-45\) m, có nghĩa là độ sâu trung bình của vịnh Thái Lan là 45 m (dưới mực nước biển); tăng trưởng \(-3\%\) có nghĩa là suy giảm \(3\%\); nhiệt độ "tăng" \(-2^\circ\text{C}\) có nghĩa là nhiệt độ giảm \(2^\circ\text{C}\); ...

• HS thường lầm tưởng rằng số âm là phải có dấu "-" đằng trước, hoặc cứ có dấu "-" đằng trước một số thì đó là số âm. Nhằm tránh hiểu sai như thế, để thể hiện một số nguyên âm, Toán 6 chủ yếu dùng cách viết \(-n\), trong đó \(n\) là một số nguyên dương (tức là \(n\in\mathbb{N}^*\)). Điều này là hợp lí, bởi vì HS đang hiểu một cách hình thức: số nguyên âm là số nguyên dương có thêm dấu "-" đứng trước. Dẫn dắt khi đã quen, mới nói đến trường hợp số âm được cho bởi giá trị, chẳng hạn cho số nguyên \(a\neq0\). Khi đó số \(a\) là số âm, mặc dù không có dấu "-" đằng trước, trong khi \(-a\) lại là một số dương.

• HS khó ghi nhớ về sự khác nhau và quan hệ giữa ba tập hợp: \(\mathbb{N},\ \mathbb{N}^*\) và \(\mathbb{Z}\). GV nên nhắc nhở thường xuyên trên lớp. Có thể sử dụng hình ảnh trực quan sau:

\[ \mathbb{Z}=\{\ldots;-4;-3;-2;-1;0;1;2;3;4;\ldots\} \]

Trong đó: \[ \mathbb{N}=\{0;1;2;3;4;\ldots\},\qquad \mathbb{N}^*=\{1;2;3;4;\ldots\}. \]

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *