Đề thi LẠI tốt nghiệp THPT 2026 môn Hoá học

Đề Hoá học (ảnh, mã đề 0344)

Đề thi tốt nghiệp THPT năm 2026 lần 2 môn Hoá học gồm 04 trang, thi sáng ngày 15/8/2026 tại điểm thi THPT chuyên Tuyên Quang.

Trích dẫn một số câu trong đề thi lại môn Hoá học năm 2026.

Phần II. Trắc nghiệm đúng sai (mã đề 0344)

📝 Câu 2

Trong dung dịch, glucose và fructose đều tồn tại cả dạng mạch hở và mạch vòng. Quá trình chuyển từ mạch vòng sang mạch hở là do trong phân tử hai chất này có nhóm –OH hemiacetal hoặc –OH hemiketal. Hình vẽ dưới đây mô tả cấu tạo của α-glucose, β-fructose và saccharose, trong đó các nhóm –OH được khoanh tròn là nhóm –OH hemiacetal của α-glucose và nhóm –OH hemiketal của β-fructose:

a) Đơn vị α-glucose và đơn vị β-fructose trong saccharose liên kết với nhau qua liên kết α-1,4-glycoside.

b) Do cả glucose và fructose đều không bị thủy phân nên chúng thuộc loại monosaccharide.

c) Khác với glucose và fructose, saccharose không có dạng mở vòng vì trong phân tử saccharose không chứa nhóm –OH hemiacetal và –OH hemiketal.

d) Dung dịch saccharose hòa tan được Cu(OH)2 trong môi trường kiềm tạo dung dịch màu xanh lam là do trong phân tử có chứa nhiều nhóm –OH liền kề.

📝 Câu 3

Hai hợp chất Fe(II) phổ biến trong phòng thí nghiệm là (NH4)2SO4·FeSO4·6H2O và FeSO4·7H2O. Khi tìm hiểu về hợp chất Fe(II), bạn Nam biết được các chất này dễ hút ẩm và Fe(II) bị oxi hoá bởi oxygen trong không khí thành Fe(III). Quan sát các hoá chất này khi để lâu trong phòng thí nghiệm, Nam nhận thấy có sự chảy rữa và chuyển sang màu nâu đỏ ở cả hai chất với mức độ khác nhau. Dựa vào hiểu biết của bản thân và hiện tượng quan sát được, Nam đề xuất giả thuyết: “Trong cùng thời gian bảo quản, phần trăm Fe(II) bị oxi hoá trong (NH4)2SO4·FeSO4·6H2O lớn hơn trong FeSO4·7H2O”. Để kiểm chứng giả thuyết này, Nam tiến hành cân, ghi lại khối lượng (m0 gam) mỗi chất tinh khiết rồi cho vào hai lọ sạch, đặt là mẫu X (chứa (NH4)2SO4·FeSO4·6H2O) và mẫu Y (chứa FeSO4·7H2O). Sau 1 tháng bảo quản trong cùng điều kiện, Nam thực hiện thí nghiệm lần lượt với mẫu X và mẫu Y theo các bước như sau:

Bước 1: Cân và xác định lại khối lượng mẫu trong lọ, thu được khối lượng m1 gam. Hòa tan toàn bộ lượng mẫu và pha thành 100,0 mL dung dịch.

Bước 2: Lấy chính xác 10,00 mL dung dịch đã pha ở bước 1 vào bình tam giác, thêm khoảng 5 mL dung dịch H2SO4 3 M. Chuẩn độ dung dịch trong bình tam giác bằng dung dịch KMnO4 0,020 M đến khi dung dịch có màu hồng bền thì dừng, ghi lại thể tích dung dịch KMnO4 đã dùng. Lặp lại phép chuẩn độ thêm hai lần nữa. Lấy thể tích trung bình (Vtb, mL) của dung dịch KMnO4 sau ba lần chuẩn độ.

Các kết quả thực nghiệm đối với mẫu X, mẫu Y được ghi vào bảng bên.

Biết: Các mẫu X, Y chỉ bị oxi hoá bởi oxygen và hút ẩm trong quá trình bảo quản; phần trăm Fe(II) bị oxi hoá trong mỗi mẫu được xác định bằng tỉ số phần trăm giữa số mol Fe(III) trong dung dịch ở bước 1 so với số mol Fe(II) trong mẫu ban đầu; đối với mẫu X, phần trăm Fe(II) đã bị oxi hoá là x%.

a) Tại thời điểm dung dịch có màu hồng bền ở bước 2, lượng Fe(II) trong bình tam giác đã phản ứng hết.

b) Giá trị của x là 82,4 (kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, chỉ kết quả phép tính cuối cùng được làm tròn đến hàng phần mười).

c) Ngoài việc xác định được khối lượng O2 phản ứng, kết quả thí nghiệm còn giúp Nam tính được khối lượng H2O đã hấp thụ vào mỗi mẫu sau 1 tháng bảo quản.

d) Kết quả thu được của thí nghiệm đã bác bỏ giả thuyết của Nam.